Hỏi: Trong bài
“ERP trong doanh nghiệp (DN): Tìm hiểu hệ sản xuất” (TGVT seri B
tháng 2/2006) có viết: “Đối với những đơn vị có hệ thống định mức
nguyên vật liệu phức tạp (ví dụ mỗi đơn hàng cần khai báo lại một bộ
định mức nguyên vật liệu mới) thì rất cần sự tư vấn của nhà triển
khai có kinh nghiệm để không biến việc nhập số liệu trở thành sự cản
trở về mặt thời gian đối với sản xuất (SX).” Tôi muốn hỏi: Nếu như
doanh nghiệp của tôi quản lý SX (QLSX) nằm trong trường hợp của tác
giả nêu thì một nhà tư vấn kinh nghiệm cần phải giải quyết như thế
nào? Xin chân thành cảm ơn! Vũ Hoàng
ĐÁP: Nếu là DN SX theo đơn đặt hàng thì mỗi lần phát sinh đơn
hàng là một sản phẩm mới và một bảng định mức mới. Khó khăn ở đây là
nếu không có một hệ thống thông tin quản lý đủ mạnh và hoàn chỉnh
thì việc xây dựng định mức cũng như đánh giá hiệu quả đơn hàng rất
khó khăn. Đứng ở góc độ nhà tư vấn triển khai, cần nhất là phải nắm
được hiện trạng DN của anh để đưa ra giải pháp tối ưu. Đôi khi, giải
pháp của hệ thống là hay, nhưng nếu triển khai thì lại gây ra sự xáo
trộn quá lớn đối với một DN.
Giả sử trong trường hợp bộ phận bán hàng của DN làm rất tốt những
công việc ban đầu (như đưa ra mẫu mã theo yêu cầu của khách hàng,
xây dựng bộ định mức cho đơn hàng đó trên các PM chuyên dụng, thậm
chí là Excel) và chuyển các kết quả này cho bộ phận sản xuất. Thì
khi đó, nhà tư vấn triển khai nên tiến hành chuyển bộ định mức đó
vào hệ thống ERP. Như vậy, sẽ giúp DN giảm thiểu được thời gian nhập
liệu. Tuy nhiên, điều này chỉ thực hiện được nếu DN của anh không
phải quản lý định mức SX của đơn hàng ở giai đoạn đầu bán hàng mà
chỉ quan tâm tới kết quả sau cùng.
Như vậy, hướng giải quyết cụ thể chỉ có thể đưa ra khi anh chỉ rõ
hiện trạng cụ thể. Cũng vậy, nếu là tư vấn triển khai có kinh nghiệm
thì họ sẽ không chỉ máy móc dựa trên những tính năng của sản phẩm đã
có mà còn căn cứ trên kinh nghiệm thực tế và kết quả khảo sát hiện
trạng, nhu cầu của DN để đưa ra lời khuyên thích hợp nhất.
Ngọc Mai
Chi phí lớn nhất trong ngân
sách chi tiêu cho ERP nằm ở phần triển khai. Xác định trước những khoản mục
chi phí sẽ giúp việc triển khai đảm bảo tiến độ và chất lượng, bằng không,
sẽ dễ bị sa lầy và thất bại.
Chi phí triển khai phần mềm (PM) ERP gồm khá nhiều mục, tùy thuộc vào mỗi
nhà triển khai. Tuy nhiên, chi phí cơ bản thường là chi phí bản quyền, hỗ
trợ triển khai, tư vấn, bảo trì vận hành hệ thống... Ngoài ra là các chi phí
cho hạ tầng ứng dụng CNTT nói chung như phn cứng, hạ tầng mạng.
Chi phí phần mềm
Chi phí PM thường bao gồm: bản quyền PM ERP và các PM liên quan khác.
Chi phí bản quyền PM ERP (còn gọi là giá license) tính theo các phân hệ và
theo số người sử dụng. Có một số PM chỉ bán theo phân hệ và không quan tâm
đến số người sử dụng.
Về khái niệm người sử dụng, không nhất thiết phải gắn với số người sử dụng
vật lý. Các hãng nước ngoài thường quy về khái niệm người sử dụng đồng thời
(concurent user). Do đó, việc xác định số lượng người sử dụng một cách đúng
đắn sẽ đem lại một khoản tiết kiệm không nhỏ cho DN.
Ngoài ra, tùy theo nhu cầu, DN phải mua bản quyền các PM khác, như hệ điều
hành; hệ cơ sở dữ liệu (CSDL) và các ứng dụng bảo mật. Các PM này DN có thể
xác định mua hoặc không mua ngay cùng với việc triển khai, tùy thuộc vào
việc tư vấn.
Chi phí triển khai
Thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng chi phí dành cho ERP, lớn hơn từ 1-5
lần so với chi phí bản quyền PM ERP. Việc triển khai bao gồm: cài đặt, huấn
luyện, thiết lập hệ thống, chuyển đổi hệ thống cũ sang mới, vận hành... Kinh
phí này được xác định dựa trên đơn giá nhân công với thời gian triển khai và
phụ thuộc các phân hệ triển khai. Ở nước ngoài, các nhà tư vấn triển khai
thường chỉ xác định giá nhân công, còn thời gian sẽ thực tính trên thời gian
của DN. Tuy nhiên, ở VN, các nhà tư vấn triển khai thường xác định trước
thời gian triển khai (fixed time), nhằm giúp DN nếu mất nhiều thời gian hơn
thì không phải bỏ thêm chi phí. Giá nhân công triển khai ERP từ vài chục đến
vài trăm USD/ngày. Trường hợp sử dụng các chuyên gia nước ngoài vào, giá
nhân công thường tính theo giờ và lên tới vài ngàn USD.
Chi phí hỗ trợ trước, trong và sau triển khai
Thông thường là chi phí cho hoạt động khảo sát tư vấn tiền ERP, hỗ
trợ giám sát triển khai và hỗ trợ hậu ERP. Tùy vào quy mô và nhận thức của
DN mà các hạng mục này có hoặc không có trong tổng chi phí dành cho ERP. Tuy
nhiên, nếu có điều kiện thì các khoản mục này nên đưa vào vì nó giúp DN vận
hành hệ thống trơn tru hơn và khai thác tối đa hiệu quả ứng dụng ERP.
Đối với dự án ERP quy mô lớn, DN nên thuê đơn vị tư vấn, giám sát triển
khai. Phần chi phí này cũng xác định dựa trên đơn giá nhân công nhân với số
ngày làm việc thực tế, hoặc dựa trên số lượng các báo cáo đánh giá chất
lượng và tư vấn của đơn vị.
Sau khi PM ERP chính thức vận hành, DN vẫn cần phải duy trì các hoạt động hỗ
trợ hậu ERP: bảo trì, nâng cấp, cung cấp bản sửa lỗi, nhất là năm đầu tiên.
Tùy theo các gói dịch vụ và mức độ hỗ trợ mà chi phí có thể dao động từ
15-25 %
Ngoài ra, DN cũng nên chú ý tới các khoản phí đi kèm như chi phí trả cho
nhân viên tham gia (bao gồm cả tuyển mới và làm thêm giờ), các khoản phụ phí
phát sinh cho môi trường triển khai ERP (địa điểm, trang thiết bị...)
Chi phí phần cứng và hạ tầng mạng
Phần cứng song hành với hệ thống ERP thường không có gì đặc biệt như
hệ thống máy chủ, máy trạm, tủ đĩa, bộ lưu điện... Tuy nhiên, về máy chủ,
một hệ thống ERP cần tối thiểu các loại sau: máy chủ hệ thống (application
server), máy chủ CSDL (database server), máy chủ dự phòng CSDL (backup
database server). Ngoài ra là các máy chủ khác cần thiết cho hoạt động của
DN như máy chủ quản lý thư điện tử (email server), máy chủ quản lý các dịch
vụ Internet (Internet server), máy chủ quản lý các tài liệu dùng chung (file
server)...
Một nguyên tắc cơ bản của hệ thống ERP chính là CSDL tập trung, nghĩa là
CSDL được tập trung tại một địa điểm. Các PM ERP tiên tiến hiện nay đều sử
dụng công nghệ web. Điều đó đồng nghĩa với việc các máy trạm không cần thiết
phải cài đặt ứng dụng nào của PM ERP mà chỉ cần sử dụng một trình duyệt như
Internet Explorer hoặc Nescape Navigator là có thể truy cập vào chương trình
sử dụng. Chính công nghệ này giúp giảm thiểu đáng kể chi phí triển khai, duy
tu, bảo trì hệ thống.
Đối với hạ tầng mạng, nếu DN đã có sẵn mạng WAN, LAN phù hợp thì phần kinh
phí này không cần phải tính đến. Hiện nay, DN có thể khai thác môi trường
Internet như một mạng WAN cho DN với chi phí chấp nhận được mà vẫn đảm bảo
mục đích khai thác của mình.
Các chú ý khác
Giá rẻ ban đầu, quyết toán tăng gấp bội: Đánh vào tâm lý "ham rẻ”, nhiều đơn
vị triển khai thường đưa ra giá chào rất thấp, thậm chí là không lấy tiền
khi chưa triển khai xong. Điều này khiến DN lầm tưởng là chỉ phải bỏ ít chi
phí là có được hiệu quả cần thiết. Trong nhiều trường hợp, DN mua PM rẻ và
chỉ ứng dụng trong thời gian ngắn rồi phải nâng cấp thì tổng chi phí của hai
lần ứng dụng có thể lớn hơn nhiều so với việc ứng dụng một lần ngay từ đầu.
Lịch thanh toán: các đơn vị tư vấn triển khai thường đưa ra lịch thanh toán
hợp lý để tránh việc DN phải thanh toán cả "đống" tiền trong một lần. Lịch
này sẽ xác định thời điểm nào cần chi khoản nào. Điều đó giúp DN cân đối
được dòng tiền và kiểm soát tốt hơn ngân sách dành cho ứng dụng CNTT.
Chi phí cho quản lý thay đổi: Khi xác lập quy trình tác nghiệp DN theo hệ
thống ERP, không loại trừ trường hợp DN phải thay đổi cơ cấu, thêm/bớt nhân
sự... Những thay đổi đó sẽ làm phát sinh những khoản chi phí không nhỏ của
DN... Nếu đơn vị tư vấn triển khai có nhiều kinh nghiệm thì việc tư vấn quản
lý thay đổi sẽ được xác định ngay từ đầu.
Lời kết
Triển khai ERP là một quá trình phức tạp và không dễ dàng. Chính việc chia
lịch trình triển khai rõ ràng sẽ giúp DN kiểm soát tốt các khoản chi phí của
mình. Bên cạnh đó, DN cũng nên có một khoản ngân sách dự phòng tối thiểu
dành cho các vấn đề phát sinh không lường trước.
Ngọc Mai
Chuyên gia tư vấn FPT-ERP
Phương Pháp Tính chi Phí của AZ
Solutions
Phương pháp tính chi
phí ERP của AZ Solutions
Để hình dung rõ nét hơn phương pháp tính chi phí triển khai ERP
trong một trường hợp cụ thể, mời bạn đọc tham khảo phần phân tích
chi phí của công ty AZ Solutions dựa trên khái niệm tổng chi phí sở
hữu TCO (Total Cost Ownership). Theo đó, TCO được tính gồm: Chi phí
tối thiểu + Chi phí phát sinh + Chi phí ẩn
Theo phân tích này, giả sử, tổng chi phí tối thiểu sở hữu ERP là
100% thì tỷ lệ chi phí cho các mục sẽ là:
Chi phí
Mô tả
Tỷ lệ
Bản quyền hệ thống ERP
Tính theo bản full license
cài trên máy chủ và số lượng người sử dụng PM
37%
Triển khai
Tính theo quá
trình triển khai của nhà cung cấp (NCC) cho khách hàng (KH)
42%
Đào tạo
Tính việc đào tạo của NCC
đối với đội ngũ lãnh đạo, chuyên viên và nhân viên của KH để
chuyển giao hệ thống.
3%
Tài liệu
Gồm: Tài liệu hướng dẫn sử
dụng; Sổ tay vận hành; Sách tra cứu (Reference book); Tài
liệu hướng dẫn cho quản trị hệ thống. Đối với những hệ thống
ERP thiết kế theo chuẩn mở còn có thêm các hồ sơ về hệ thống
tham số thiết lập cho KH (Setup parameters guideline).
1%
Dịch vụ bảo trì
Giúp xử lý các sự cố vận
hành trong năm đầu tiên
17%
Ngoài chi phí tối
thiểu, theo phân tích của AZ, trong quá trình triển khai, có thể
phát sinh các chi phí sau:
• Chi phí xử lý số liệu: Theo nguyên tắc, việc đảm bảo số liệu là do
KH đảm nhận. Do vậy, nếu KH yêu cầu NCC xử lý dữ liệu cũ, cập nhật
vào hệ thống mới thì sẽ tính thêm khoản xử lý dữ liệu này. Nhiều
trường hợp, chi phí này rất lớn vì khối lượng dữ liệu cần xử lý phức
tạp và nhiều.
• Chi phí tùy biến (Customize): được hiểu là không gồm các báo cáo
làm thêm do yêu cầu của KH mà chỉ tính yêu cầu phát triển thêm do
nghiệp vụ đặc thù. VD: bài toán tính kích cỡ tôm cho kế hoạch sản
xuất của ngành thủy sản; bài toán sắp xếp kho hợp lý tại một nhà máy
lắp ráp ô tô theo đặc thù của kho bãi... được xác định là chi phí
customize.
• Chi phí tư vấn (Consultant fee): được tính đến trong trường hợp
NCC thấy cần phải tư vấn cho KH thay đổi quy trình quản lý, tổ chức
lại cấu trúc các bộ mã, danh điểm một cách khoa học hơn, thậm chí là
tái cấu trúc DN nhằm tối ưu hóa hệ thống ERP khi ứng dụng.
Đặc biệt, theo ông Phí Anh Tuấn, phó giám đốc AZ thì KH cũng nên lưu
ý tới khoản chi phí "ẩn" hay chi phí mở rộng hệ thống trong tương
lai. Theo ông Tuấn, khi đã sử dụng, nếu muốn mở rộng, khoản chi phí
này sẽ rất cao. Thường các hãng nước ngoài hay sử dụng phương thức
giảm giá hấp dẫn cho bản Entry (bản khởi đầu) với những chức năng cơ
bản. Vì vậy, KH cũng nên tìm hiểu và cam kết về chính sách giá cho
việc mở rộng hệ thống trong tương lai từ NCC.
Nguồn: PC World
Khi nói về CNTT Việt Nam
thế
giới sẽ nghĩ về
CNTT Y KHOA
Dao kéo y khoa khác dao kéo thường.
Kim chỉ y khoa khác kim chỉ thường.
Phần mềm y khoa cũng vậy, khác phần mềm thường.
Không hiểu y khoa mà làm phần mềm y khoa thì
chỉ mang lại hậu quả chứ không mang lại hiệu quả.