Phần mềm “vô giá”, doanh
nghiệp thiệt thòi
Với hơn 50 lập trình viên, mỗi năm
Công ty giải pháp phần mềm FPT triển khai khoảng 60 dự án làm sẵn, và khoảng 60
hợp đồng kí kết với khách hàng. Khách hàng chính của công ty là các ngân hàng
thương mại, các cơ quan tài chính, chính phủ, tổ chức thuế, ban tài chính, các
doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề đau đầu hiện nay của FPT là làm
sao để khách hàng chấp nhận các bng báo giá, và đồng ý thanh toán cho những chi
phí phát sinh, đôi khi do lỗi từ phía khách hàng.
Theo ông Dương Dũng Triều, Giám đốc
Công ty giải pháp phần mềm FPT thì: "Yêu cầu của khách hàng thay đổi thường
xuyên, hoặc những lý do khác từ phía khách hàng làm kéo dài thời gian triển khai
hợp đồng, nhưng chúng tôi không được thanh toán cho những phần kéo dài ấy. Kinh
phí ký hợp đồng thường cố định một giá, chủ đầu tư cũng không có cách nào mà trả
thêm tiền cho chúng tôi được".
Tiến độ triển khai việc ký kết hợp
đồng với khách hàng cũng là một vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp phần mềm.
Chưa có một căn cứ chính thức để định giá, việc thẩm định, phê duyệt các dự án
đầu tư phần mềm thường phải lặp lại quy trình rất lâu. Thông thường, để triển
khai một hợp đồng đầu tư cho phần mềm, phải mất đến vài năm.
Ông Dương Dũng Triều còn cho biết
thêm: "Có những hợp đồng phải kéo dài so với dự định nhiều năm. Chẳng hạn như,
một dự án của chính phủ có quyết định đầu tư từ năm 2003, đến năm 2004 mới đấu
thầu xong tư vấn, đến giữa 2005 mới ký được hợp đồng tư vấn đó, và nếu theo lịch
thì phải đến cuối 2006 mới đấu thầu được. Trong khi theo kế hoạch ban đầu thì
đến 2005 hệ thống có thể chạy được".
Khó khăn này không chỉ của riêng FPT
mà còn là của hầu hết các doanh nghiệp phần mềm. Nhìn nhận ở một khía cạnh khác,
hiện nay đang tồn tại một thực tế là doanh nghiệp phần mềm đưa ra giá cao thì
khó được thị trường chấp nhận. Nhưng ngược lại, đưa ra giá quá thấp, không đủ
chi phí dẫn đến việc triển khai dự án cứ “giậm chân tại chỗ”. Trong tình hình
đó, không ít doanh nghiệp đã phải đối phó theo kiểu: “tát nước theo mưa".
Các chủ đầu tư đang định
giá sản phẩm phần mềm trên cơ sở: giá thành của vật tư đầu vào cộng chi phí sản
xuất và lãi. Thế nhưng, nguyên liệu "đầu vào" chủ yếu của phần mềm lại là một
thành phần khó "đong đếm", đó là chất xám. Các doanh nghiệp phần mềm lúc này lại
có lý khi cho rằng, phải tuỳ theo tính năng của phần mềm, hiệu quả mà nó mang
lại. Nếu một sản phẩm làm ra với giá thành thấp, nhưng nó mang lại hiệu quả cao
cho người sử dụng. Nếu không ai làm được hoặc làm tốt hơn thì sản phẩm ấy
có quyền bán 1 cái giá nào đó gấp 10, gấp 100, hay thậm chí 1000 lần giá thành
sản xuất.
Thiếu cơ sở định giá, chủ đầu
tư “né tránh” phần mềm
Hải quan được đánh giá là
một ngành khá nhạy bén trong ứng dụng CNTT vào các hoạt động của mình. Chương
trình Hải quan điện tử đã được ứng dụng tại Hải Phòng và TP.HCM từ rất sớm và
thể hiện hiệu quả đặc biệt. Do đặc thù của ngành, hải quan là một khách hàng lớn
và khá thường xuyên của các doanh nghiệp phần mềm. Tuy nhiên, trong thời gian
qua, tỉ lệ đầu tư cho các dự án phần mềm mới chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số
ngân sách đầu tư cho CNTT của ngành.
Nguyễn Công Bình, Cục trưởng cục CNTT
và thống kê hải quan cho biết: "Trong những năm trước 2006 thì đầu tư cho ngành
hải quan khoảng 100 tỷ đồng Vịêt Nam, trong đó phần mềm chiếm 10 tỷ đồng. Phần
mềm này bao gồm cả phần mềm thuê các công ty chuyên nghiệp, chuyên phần mềm viết
phần mềm, cộng với các chi phí khác như: đào tạo, khảo sát, thiết kế..."
Nói đến việc triển khai các dự án CNTT
sử dụng vốn ngân sách, các chuyên gia và các nhà quản lý trong ngành đều lắc đầu
ngao ngán. Cho đến cuối năm 2004, các dự án trong "Kế hoạch tổng thể về ứng dụng
và phát triển CNTT đến 2005" mới giải ngân được khoảng 12%. Trong đó, các dự án
đầu tư cho CNTT lại chủ yếu tập trung vào việc mua phần cứng. Mua về và "đắp
chiếu" để đấy. Nguyên nhân? ai cũng hiểu, phần cứng rốt cục cũng chỉ
là cái xác, còn phần mềm, phần hồn thì vẫn còn đợi đơn giá để ..duyệt chi.
Ông Chu Văn Hùng, Giám đốc Công ty
TNHH thương mại và công nghệ Tân Thành An phát biểu: "Đầu tư về CNTT thì phần
cứng nó có đánh giá rất rõ ràng. Ví dụ một cái máy chủ thì 2GH hay là 1Gb Ram,
màn hình 17 inch thì nó có một cái giá rõ ràng. Do đó, những doanh nghiệp phần
mềm sẽ chịu thiệt thòi trong lĩnh vực đầu tư CNTT. Theo ngân sách Nhà nước thì
tất cả những lĩnh vực đầu tư về CNTT đều phải có đơn giá, nhưng phần mềm thì
không có đơn giá".
Khi chúng tôi đề cập đến vấn đề "định
giá các sản phẩm phần mềm" đang được ứng dụng trong các doanh nghiệp, tổ chức
nhà nước, thì hầu hết đều nhận được những lời từ chối khéo. Phải chăng vấn đề
này quá tế nhị? Hay liên quan đến quyền lợi của một số người? Câu trả lời xem ra
không quá phức tạp đến vậy.
Giải bài toán định giá phần
mềm – đến bao giờ?