Ứng dụng tin học hóa trong quản lý dược bệnh viện
ThS. Vũ Hồng Minh
 |
|
Hướng dẫn và theo dõi bệnh nhân dùng thuốc, nâng cao chất lượng điều
trị. Ảnh: TM |
Mặc dù Công nghệ thông tin
(CNTT) y tế tại nước ta mới bắt đầu nhập cuộc cùng với sự phát triển CNTT thế
giới, nhưng đã từng bước được triển khai và mang lại những hiệu quả nhất định.
Trong phát triển CNTT y tế, phần mềm quản lý bệnh viện giữ vai trò rất quan
trọng trong các phần mềm ứng dụng của ngành y tế vì các hoạt động của bệnh viện
chiếm một khối lượng công việc lớn của ngành và là yêu cầu cấp thiết để nâng cao
chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.
Cùng với quản lý bệnh nhân và
quản lý tài chính, quản lý dược là yêu cầu cần thiết phải thực hiện khi tin học
hóa bệnh viện. Thực hiện tốt công tác quản lý dược bệnh viện là hướng tới mục
tiêu đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu dùng thuốc của người bệnh và sử dụng thuốc
một cách hợp lý, an toàn, hiệu quả. Quản lý dược trong bệnh viện theo đó cũng
gồm hai vấn đề chủ yếu, đó là:
- Dược vật tư (Quản lý cung
ứng, xuất nhập, bảo quản, cấp phát thuốc).
- Dược lâm sàng (Quản lý, theo
dõi, giám sát sử dụng thuốc điều trị)
Dược vật tư
Hầu hết các bệnh viện - đặc
biệt bệnh viện công lập trong ngành y tế hiện nay đang quản lý dược thông qua hệ
thống sổ sách báo cáo từ trước, các bảng biểu, phiếu viết tay được chế bản từ
những phần mềm hoạt động riêng lẻ. Công tác thống kê, xử lý số liệu mất rất
nhiều thời gian, công sức do quy trình thao tác thủ công và lưu trữ trên giấy
tờ. Tuy nhiên, bên cạnh đó chính hệ thống sổ sách, báo cáo nói trên vì đã được
xây dựng theo đúng quy chế của Bộ Y tế ban hành nên đó là xương sống, là chuẩn
quản lý tương đối để xây dựng nên phần mềm quản lý dược bệnh viện.
Để việc sử dụng phần mềm ứng
dụng có hiệu quả, bệnh viện phải có quy định về cập nhật dữ liệu, mỗi quá trình
xuất nhập tồn thực hiện ngay trên máy tính, các số liệu theo đó được cập nhật
bất cứ lúc nào trong ngày. Khi các số liệu đã được cập nhật đầy đủ, nhà quản lý
có thể nắm bắt được nhanh chóng, kịp thời, chính xác về các thông tin liên quan
đến dược vật tư. Các số liệu này về cơ bản, gồm có:
- Số lượng các thuốc còn tồn
trong kho vào thời điểm hiện tại. Nhờ đó nhà quản lý có kế hoạch xuất nhập hợp
lý và khi kiểm tra với số lượng tồn thực tế sẽ kiểm chứng đợc ngay đ trung
thực trong cấp phát.
- Số lượng của một thuốc hoặc
nhóm thuốc mà một khoa phòng đơn lẻ hoặc toàn bệnh viện đã sử dụng trong ngày,
tuần, tháng, cả năm... Điều này giúp công tác dự trù hợp lý theo từng chuyên
khoa sâu trong bệnh viện, đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc đầy đủ của từng khoa
phòng nói riêng và cả bệnh viện nói chung.
- Theo dõi chất lượng thuốc,
các nguyên liệu làm thuốc được bảo quản trong kho giúp giảm thiểu tình trạng
thuốc hết hạn, giảm thiểu tình trạng thuốc kém chất lượng trong quá trình bảo
quản.
- Các mẫu báo cáo được in ra
theo đúng quy chế xuất nhập, bảo quản, tồn trữ (thuốc thường, độc A-B, hướng
thần, gây nghiện) do Bộ y tế quy định.
- Chi phí sử dụng cho mỗi
thuốc, cho từng nhóm thuốc, cho tất cả các loại thuốc trong một tháng, trong một
quý, trong cả năm. Từ đó, phối hợp với phòng Tài chính để tham mưu cho Ban Giám
đốc có kế hoạch đấu thầu kịp thời, đầy đủ.
Như vậy, việc ứng dụng tin học
hóa trong quản lý dược vật tư là hoàn toàn khả thi và mang lại nhiều lợi ích
thiết thực. Thực tiễn trong một số năm vừa qua, nhiều bệnh viện công lập trên
toàn quốc khi áp dụng tin học hóa quản lý dược đã đạt được nhiều hiệu quả nhất
định, mở ra những bước đầu thành công trong việc phổ cập tin học hóa bệnh viện.
Dược lâm sàng
Quy chế bệnh viện do Bộ Y tế
ban hành năm 1997 quy định một trong những nhiệm vụ then chốt của khoa dược là
phối hợp với bác sĩ điều trị để thực hiện và giám sát sử dụng thuốc hợp lý, an
toàn, hiệu quả. Hiện nay, công tác dược lâm sàng trong bệnh viện càng trở nên
thời sự do sử dụng thuốc nhiều hơn, tác dụng phụ - độc tính được phát hiện ngày
càng nhiều, chi phí dùng thuốc liên tục tăng,... Việc áp dụng tin học hóa trong
khâu này hoàn toàn có thể thực hiện được khi mà bệnh viện đã tin học hóa tới
từng khoa phòng điều trị và các bác sĩ kê đơn trực tiếp trên máy tính. Trên cơ
sở phần mềm tương tác và các tác dụng phụ của thuốc, bác sĩ sẽ được cảnh báo
ngay trong quá trình thăm khám và kê đơn thuốc. Cán bộ dược chính khoa dược cần
cập nhật thông tin về thuốc mới, dược động học – dược lực học, tác dụng phụ,
tương tác thuốc vào hệ thống cơ sở dữ liệu trong phần mềm quản lý dược và chịu
trách nhiệm về những thông tin đó. Mặc dù những thông tin này chỉ là để khuyến
cáo cho các bác sĩ chứ không phải là một căn cứ chuyên môn, nhưng cũng góp phần
không nhỏ giúp họ trong quá trình kê đơn thuốc - đặc biệt ở những bệnh viện chưa
có dược sĩ lâm sàng cho các khoa điều trị. Ngoài ra, thực hiện kê đơn trực
tiếptrên máy tính sẽ thay thế cho việc tổng hợp thuốc trong hồ sơ bệnh án và sổ
lĩnh thuốc tổng hợp – vốn là một công việc hành chính đơn thuần mất rất nhiều
thời gian và dễ nhầm lẫn. Do đó công việc này sẽ giúp tiết kiệm nhân lực, tiết
kiệm thời gian và nâng cao hiệu quả làm việc.
Định hướng CNTT y tế của Bộ Y
tế đã khẳng định việc xây dựng phần mềm khung quản lý bệnh viện, xây dựng ngân
hàng dữ liệu thống nhất trên toàn quốc, sau đó tiến đến biểu mẫu báo cáo điện tử
chung toàn ngành là hết sức cấp thiết. Thực tế các bệnh viện cho thấy, để ứng
dụng tin học hóa trong hoạt động dược có hiệu quả cần có một mã thuốc thống
nhất, sử dụng chung một cơ sở dữ liệu về tương tác và tác dụng phụ của thuốc.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu này chỉ cần tiến hành một lần và cập nhật do một tổ
chức được Bộ Y tế chỉ định, sau đó các bệnh viện tựcập nhật về. Nhờ mã thuốc
thống nhất mà các cơ quan chủ quản như sở y tế địa phương, Bộ Y tế tổng hợp được
những số liệu thống kê chính xác về tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện
trực thuộc để có chính sách vĩ mô điều chỉnh hợp lý. Những chính sách đó là
hoạch định cơ chế quản lý nhân lực, chính sách xuất nhập khẩu, sản xuất thuốc
phù hợp tránh gây thiệt hại, lãng phí cho kinh tế y tế, bảo đảm nâng cao chăm
sóc sức khỏe người bệnh.
Ngày 31/05/2007
|
| Nguồn: Báo Sức khoẻ & Đời sống |
|