3II. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHẦN MỀM MEDISOFT 2003
1. Một số kết quả sau hơn một năm triển khai thực hiện phần mềm medisoft2003
Dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Y tế, sự cố gắng, quyết tâm của Vụ Điều trị,
sau một thời gian chuẩn bị, xây dựng phần mềm, ngày 19 tháng 8 năm 2004, Bộ
trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2824/2004/QĐ-BYT, về việc ban hành phần
mềm ứng dụng tin học trong “Quản lý báo cáo thống kê bệnh viện và hồ sơ bệnh
án”, viết tắt là Medisoft 2003, gồm 2 phân hệ: Phân hệ 1: Áp dụng tại các bệnh
viện của Nhà nước, bán công và tư nhân. Phân hệ 2: Áp dụng tại Vụ Điều trị- Bộ Y
tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Y tế ngành.
Phần mềm Medisoft 2003 về cơ bản được nâng cấp từ phần mềm Bsoft 2000 của Vụ
Điều trị, được viết bằng ngôn ngữ C# trên nền Visual Studio 2003, sử dụng hệ
quản trị cơ sở dữ liệu Access và Oracle 9.i:
Phân hệ 1: dùng cho các bệnh viện với chức năng chính là quản lý các báo cáo
thống kê và hồ sơ bệnh án. Phân hệ này có thể chạy trên mạng LAN để quản lý
thông tin xuất nhập viện của bệnh nhân theo thời gian thực, sau đó sẽ kết xuất
ra các bảng biểu thống kê để gửi về Sở Y tế và Bộ Y tế. Phân hệ này cũng cho
phép quản lý các theo hình thức thủ công đó là nhập trực tiếp các số liệu đã
tổng hợp từ sổ sách sau đó kết xuất các báo cáo để gửi Sở Y tế và Bộ Y tế theo
đường email, đĩa mềm, đĩa CD ...
Phân hệ 2: dùng cho các Sở Y tế và Bộ Y tế nhằm tổng hợp các báo cáo từ phân hệ
1 do các bệnh viện gửi lên. Công việc tổng hợp các báo cáo của các bệnh viện gửi
về Sở Y tế và của các Sở Y tế gửi về Bộ Y tế tương đối dễ dàng và tiết kiệm thời
gian.Phần mềm Medisoft 2003 quản lý về biểu mẫu báo cáo và hồ sơ bệnh án cho
các bệnh viện trên tòan quốc, đánh dấu thành công bước đầu trong việc chuẩn hoá
và thống nhất phần mềm. Đến nay sau hơn một năm triển khai thực hiện và đây là
dịp tốt nhất để đánh giá thực tế thành công của mô hình này:
- Sau hơn một năm triển khai, tổng số báo cáo 9 tháng năm 2005 là 240 báo
cáo/1040BV chiếm 23%. Trong đó có 20/30 BV Trung ương thực hiện.
- Tổng số báo cáo 12 tháng năm 2005 Vụ Điều trị nhận được: 200 báo cáo/1040BV
chiếm 19%. Có 18/30 BV Trung ương còn lại chủ yếu là các bệnh viện đa khoa tuyến
tỉnh.
- Trong số đó có 7/64 Sở Y tế (chiếm 10%) thực hiện trong toàn Sở: Hải Phòng,
Hưng Yên, Long An, Nghệ An, Thái Nguyên, Bến Tre, Hà Nội.
- Trong số các bệnh viện gửi báo cáo về có 50% tổng hợp báo cáo từ Hồ sơ
bệnh án. Số còn lại là nhập tổng hợp theo 11 biểu báo cáo. Những bệnh viện lớn
như Bạch Mai, Chợ rẫy, Việt Đức, TW Huế … đều nhập tổng hợp từ biểu báo cáo.
- Một số bệnh viện có nối mạng LAN để quản lý thông tin xuất nhập chuyển viện
của bệnh nhân (điển hình là bệnh viện Đống Đa Hà nội; Bệnh viện Trà Vinh), còn
lại chủ yếu là cài đặt trên máy đơn lẻ hoặc mạng LAN nhỏ để nhập hồi cứu.
- Đối với các bệnh viện tuyến huyện nếu được trang bị máy tính và cán bộ chuyên
trách có trình độ tin học thì việc triển khai thực hiện không quá khó khăn do
lưu lượng bệnh nhân ít, việc nhập và kết xuất các báo cáo tương đối dễ dàng.
2. Thành công bước đầu
Những đóng góp có ý nghĩa vô cùng to lớn của Medisoft 2003 phải kể đến:
Một là, cho thấy được vai trò chủ đạo và quyết tâm của Bộ Y tế trong
công tác chỉ đạo ứng dụng CNTT trong quản lý toàn bộ hệ thống bệnh viện.
Hai là, thống nhất được định dạng tin học của hệ thống biểu mẫu thống kê
báo cáo.
Ba là, số liệu được lưu trữ lâu dài và tra cứu thuận tiện dễ dàng, rút
ngắn được thời gian tổng hợp báo cáo thống kê cho Sở Y tế và Bộ Y tế.
Bốn là, đã bước đầu giới thiệu mô hình quản lý bệnh viện bằng công nghệ
thông tin và là một bằng chứng rất thuyết phục cho thấy hoàn toàn có khả năng
triển khai một phần mềm khung quản lý bệnh viện trên toàn quốc, mặc dù các bệnh
viện có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức và công việc cụ thể.
Hiện nay, một số bệnh viện không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng CNTT trong quản
báo cáo thống kê và hồ sơ bệnh án, các bệnh viện này đã vươn lên bằng nội lực
của chính mình để triển khai quản lý tổng thể bệnh viện bằng CNTT và bước đầu đã
thu được nhiều thành quả. Một số điển hình của việc ứng dụng CNTT trong
quản lý toàn diện bệnh viện phải kể đến đó là: bệnh viện Gang Thép Thái nguyên;
Răng Hàm Mặt Hà nội; bệnh viện Phụ Sản Hà nội, bệnh viện Nhi TW; Việt Nam - Thụy
Điển Uông bí ….3. Tồn tại, khó khăn
Quá trình thực hiện đã có rất nhiều ý kiến khác nhau tùy theo đối tượng sử dụng:
- Một số lỗi về mặt kỹ thuật là điều không tránh khỏi đối với bất kỳ một phần
mềm nào khi triển trên diện rộng đã dần được đơn vị phát triển khắc phục.
Hiện nay phiên bản sửa lỗi lần thứ 4 đã chạy ổn định.- Đối với một số bệnh
viện, cán bộ chuyên trách có trình độ sử dụng máy tính còn hạn chế và quá trình
tập huấn triển khai phần mềm chưa được cụ thể, chưa chi tiết cho nên gặp rất
nhiều khó khăn khi sử dụng phần mềm.
- Đối với bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ương thì phần mềm này mới chỉ đáp
ứng được yêu cầu về mặt quản lý báo cáo thống kê của Bộ Y tế và một số báo cáo
của Sở, chưa đem lại hiệu quả cho các bệnh viện trong công tác quản lý, gây tốn
kém nhân lực nhập liệu do lưu lượng bệnh nhân ra vào viện lớn.- Quá trình
phát triển phần mềm do được phê duyệt về mặt chuyên môn nhưng lại không có kinh
phí phát triển, trong khi nhu cầu nâng cấp phần mềm Bsoft là cấp bách do đó phải
dựa hoàn toàn vào một công ty tư nhân nên không được bàn giao mã nguồn đầy đủ và
tài liệu kỹ thuật (hiện nay mới chỉ bàn giao được phần 11 biểu mẫu thống kê).
- Việc đưa tiêu chí sử dụng phần mềm để kết xuất và gửi báo cáo thống kê về Bộ Y
tế vào trong bảng điểm kiểm tra cuối năm đã gây nhiều tranh cãi. Việc ứng dụng
phần mềm để quản lý các báo cáo thống kê tổng hợp và kết xuất số liệu để gửi về
Bộ Y tế tương đối đơn giản, chỉ cần 1 người/1 máy tính/ là có thể đảm bảo hoàn
thành công việc.
- Quá trình triển khai thực hiện Medisoft 2003 và nghiên cứu thực trạng tại
một số bệnh viện cho thấy các bệnh viện rất khác nhau về đặc thù công việc; cũng
như khác nhau về nhu cầu ứng dụng; khác nhau về hạ tầng cơ sở vật chất; khác
nhau về kinh nghiệm và quan điểm của lãnh đạo trong việc triển khai ứng dụng tin
học quản lý bệnh viện; khác nhau về trình độ công nghệ thông tin của nhân viên y
tế..., cho nên không thể có một phần mềm cứng nhắc (đóng mã nguồn) để áp dụng
cho tất cả các bệnh viện.
4. Bài học kinh nghiệm
Qua trên một năm triển khai thực hiện phần mềm Medisoft 2003 trên mạng lưới
bệnh viện trong cả nước, các nhà quản lý đã rút ra được nhiều bài học quí báu
trong công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, đó là:
- Phải có quyết tâm cao và nhất quán trong chỉ đạo thực hiện của lãnh đạo các
cấp.- Phải có sự đầu tư thích đáng và đồng bộ về hạ tầng cơ sở vật chất như
máy tính, hệ thống mạng, phần mềm.
- Về đào tạo con người, phải tăng cường tập huấn cho tất cả các cán bộ công chức
viên chức trong bệnh viện về sử dụng máy tính và sử dụng phần mềm.
- Khi triển khai xây dựng phn mềm quản lý bệnh viện, các bệnh viện cần phải
yêu cầu nhà cung cấp phần mềm bàn giao tài liệu kỹ thuật; mã nguồn; cấu trúc cơ
sở dữ liệu ... để chủ động với cơ sở dữ liệu của bệnh viện mình sau này.
Phần thứ hai
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN GIAI ĐOẠN 2006-2010
I. MỤC TIÊU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Một là, tăng cường công tác quản lý hoạt động bệnh viện dựa trên cơ sở
quản lý khoa học và hiệu quả của hệ thống quản lý áp dụng tin học (tin học
hoá quản lý bệnh viện), tăng cường năng lực hoạt động của cán bộ dựa trên
việc áp dụng kỹ thuật cao.
Hai là, giúp cho người quản lý nắm được các thông tin nhanh, chính
xác, bất cứ lúc nào, tránh được quan liêu, hiệu chỉnh ngay được các sai sót và
điều chỉnh hoạt động kịp thời. Thông qua các dữ liệu và thông tin, người quản lý
có thể đưa ra được những kế hoạch phù hợp và giúp cho việc điều hành thực hiện
kế hoạch một cách nhanh chóng.
Ba là, giúp đơn giản hoá các thủ tục hành chính, loại bỏ bớt các hoạt
động trung gian, tạo điều kiện cho các dịch vụ khám chữa bệnh nhanh chóng, thuận
tiện và kịp thời.
Bốn là, tăng cường chất lượng thông tin của bệnh viện các tuyến và thống
nhất dữ liệu cho hoạt động quản lý ngành.II. ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG BỆNH VIỆN
Định hướng trong ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện trong thời
gian tới là:1. Tiếp tục triển khai thực hiện phần mềm quản lý báo cáo thống
kê bệnh viện (Medisoft 2003) và kết xuất báo cáo gửi về Bộ Y tế. Bộ Y tế (Vụ
Điều trị cung cấp định dạng tin học các báo co thống kê bệnh viện cho cc bệnh
viện sử dụng.
2. Các bệnh viện trong toàn quốc tích cực, chủ động xây dựng phần mềm tin học
quản lý bệnh viện nhưng phải kết nối được với phần mềm thống kê Medisoft 2003.
3. Bộ Y tế (Vụ Điều trị) xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá, kiểm
tra việc ứng dụng CNTT trong quản lí bệnh viện.
4. Vụ Điều trị xây dựng phần mềm dùng chung với một số modul cơ bản có mã nguồn
mở, hỗ trợ các bệnh viện đẩy nhanh tốc độ ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện.
5. Phối hợp với các đơn vị liên quan từng bước nghiên cứu và xây dựng chuẩn
trao đổi dữ liệu y khoa quốc tế HL7.
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QLBV
BỆNH VIỆN
1. Phần mềm thống kê báo cáo (Medisoft 2003)
Tiếp tục ứng dụng Medisoft 2003 trong việc quản lý báo cáo thống kê và kết xuất
báo cáo gửi về Sở Y tế và Bộ Y tế (việc này như đã trình bày ở trên rất đơn
giản), các bệnh viện theo nhu cầu có thể lựa chọn ứng dụng hay không phần quản
lý Hồ sơ Bệnh án. Vụ Điều trị cung cấp định dạng tin học các báo cáo thống kê
bệnh viện cho các bệnh viện đang sử dụng phần mềm QLBV của các đơn vị khác, các
bệnh viện phải yêu cầu các công ty phải kết xuất trực tiếp các báo cáo thống kê
bệnh viện, tránh nhập bệnh nhân nhiều lần, gây phiền hà cho bệnh nhân.
Tạo điều kiện thuận lợi nhất để các bệnh viện triển khai thực hiện được phần
mềm quản lý báo cáo thống kê bệnh viện (Medisoft 2003) và kết xuất báo cáo gửi
về Bộ Y tế.
Phấn đấu đến hết năm 2010: trên 80% các bệnh viện trong toàn quốc thực hiện
phần mềm quản lý báo cáo thống kê bệnh viện (Medisoft 2003).2. Mạng
LAN của bệnh viện
Hệ thống mạng LAN trong bệnh viện chính là cơ sở hạ tầng của hệ thống thông tin
và là một yếu tố quan trọng quyết định thành công việc ứng dụng phần mềm quản lý
bệnh viện vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ của các phần mềm quản lý bệnh
viện đồng bộ. Vì vậy, cần được tư vấn và thiết kế mạng LAN trong bệnh viện thật
tốt, sao cho đáp ứng được các yêu cầu hệ thống ứng dụng và dch v trong giai
đoạn hiện tại và tương lai. Tùy theo địa hình phân tán của các điểm nút mạng cần
phải lựa chọn công nghệ đường truyền sao cho đảm bảo các tiêu chí kỹ thuật (vd:
cáp quang; sợi trục hay công nghệ không dây ...)
Hệ thống mạng cần phải đáp ứng các yêu cầu về ứng dụng, đảm bảo cung cấp hạ
tầng truyền thông cho việc truy cập cũng như cập nhật và tích hợp hệ thống dữ
liệu trong bệnh viện và ra bên ngoài. Đây là tiền đề cho các bước phát triển hệ
thống ứng dụng thống nhất trong một bệnh viện nói riêng và toàn ngành y tế nói
chung trong các giai đoạn tiếp theo.
Phấn đấu đến hết năm 2010: 100 % các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và 30% bệnh viện tuyến quận, huyện có hệ thống mạng LAN trong
bệnh viện.3. Kết nối Internet
Internet đang được phổ biến hết sức nhanh chóng trở thành hệ thống huyết mạch
quan trọng của mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Càng ngày người dùng
Internet đang được hưởng thành quả của các tiến bộ vượt bậc về công nghệ cũng
như hạ tầng cơ sở viễn thông, tốc độ đường truyền cao ổn định, cho phép nhân
viên y tế có thể sử dụng nhiều ứng dụng khác nhau qua Internet.
Việc sử dụng dịch vụ Internet, dịch vụ kết nối và dịch vụ ứng dụng Internet
trong hệ thống bệnh viện là rất cấp thiết, là một cửa ngõ lưu thông để cập nhật
với khoa học công nghệ Y học thế giới, khuyến khích ưu tiên phát triển Internet
bệnh viện là một chủ trương lớn của nghành Y tế.
Phấn đấu đến hết năm 2010: 100 % các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và 30% bệnh viện tuyến quận, huyện mở cổng Internet, cán bộ
nhân viên bệnh viện được sử dụng miễn phí Internet tại bệnh viện.
4. Website của bệnh viện
Trang website bệnh viện tạo một kho dữ liệu thông tin về quá trình phát triển,
tổ chức kết cấu bệnh viện, vật tư thiết bị y tế, phục vụ tra cứu thuốc, năng lực
phục vụ người bệnh, các nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, chỉ đạo tuyến, hợp
tác quốc tế, dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu; giúp cho cán bộ trong bệnh
viện, sinh viên, người dân quan tâm tra cứu đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời
phục vụ người bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo; tăng cường trao đổi thông tin
trong hệ thống bệnh viện, cũng như các cơ sở khoa học trong và ngoài nước thông
qua việc kết nối mạng trong hệ thống bệnh viện trên cả nước và kết nối Internet;
nâng cao năng lực quản lý điều hành bệnh viện trên cơ sở nắm bắt kịp thời các
thông tin bệnh viện qua website.
Phấn đấu đến hết năm 2010: 100 % các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và 30% bệnh viện tuyến quận, huyện có trang Website riêng của
bệnh viện.
5. Tích cực, chủ động xây dựng phần mềm quản lý bệnh việnTrước các
tiến bộ vượt bậc của công nghiệp phần cứng, giá thành của các thiết bị phần cứng
ngày càng giảm, do đó yếu tố phần mềm trở nên vô cùng quan trọng trong việc ứng
dụng tin học quản lý bệnh viện. Bên cạnh việc đưa ra các tiêu chí về quản lý y
tế cho việc ứng dụng tin học quản lý bệnh viện, Vụ Điều trị chủ trương nâng cấp
Medisoft 2003 trở thành một phần mềm quản lý bệnh viện thực sự.
Phần mềm này bao gồm một số mô- đun cơ bản nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý
chung nhất của tất cả các bệnh viện (khoa khám bệnh; cận lâm sàng; nội trú; viện
phí và BHYT; dược kho và quản lý dược bệnh nhân).Việc phát triển phần mềm này
không phải là một chủ trương thống nhất phần mềm phục vụ cho quản lý hệ thống
các bệnh viện mà chỉ đơn giản nhằm mục tiêu giảm tối đa chi phí phát triển phần
mềm cho các bệnh viện, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu và giúp đẩy nhanh tốc độ
tin học hóa quản lý bệnh viện trong thời gian tới.
Phần mềm này do Vụ Điều trị - Bộ Y tế chủ trì phối hợp với một số đơn vị có năng
lực CNTT phát triển, bản quyền phần mềm thuộc Bộ Y tế và mã nguồn phần mềm sẽ do
Vụ Điều trị quản lý, sau khi triển khai thí điểm thành công tại một số bệnh
viện, phần mềm này sẽ được cung cấp cho các bệnh viện kèm theo mã nguồn và tài
liệu kỹ thuật chi tiết.
Tùy theo yêu cầu quản lý chi tiết và đặc thù công việc mà các bệnh viện có
thể dựa vào cán bộ CNTT của bệnh viện hoặc thuê các đối tác thích hợp để chỉnh
sửa (customize), phát triển tiếp hoặc thêm hoặc bớt các chức năng, tất nhiên là
chi phí sẽ rất thấp bởi lẽ có rất nhiều cá nhân hoặc công ty có thể làm được
việc này.
Các chỉnh sửa thuộc phần khung sẽ của phần mềm- theo luật của phần mềm mã nguồn
mở- sẽ được phổ biến trở lại cho bệnh viện và Bộ Y tế nhằm tiếp tục hoàn thiện
để ứng dụng cho các bệnh viện khác đồng thời các bệnh viện cũng có thể chủ động
với phần mềm và cơ sở dữ liệu của mình. Những mô-đun thêm mới sẽ thuộc bản quyền
của các đơn vị phát triển tiếp theo mà không yêu cầu phải trao lại cho Bộ Y tế.
Đây là mô hình phát triển phần mềm ”lặp và tăng dần” dựa trên cơ sở mô hình
tiến hóa, có ưu điểm là phát huy được sức mạnh trí tuệ tập thể của các chuyên
gia tin học trong và ngoài ngành, đẩy nhanh tốc độ ứng dụng tin học trong quản
lý bệnh viện. Sau quá trình triển khai tại một số bệnh viện, những nhược điểm
của phần mềm sẽ bị loại bỏ hoặc thay thế, tất cả các ưu điểm sẽ được giữ lại để
nâng cấp cho phiên bản sau và phần mềm sẽ không ngừng được hoàn thiện.
Việc phát triển phần mềm khung quản lý bệnh viện là rất phức tạp cho nên quá
trình hoàn thiện, tối ưu, chuẩn hóa phần mềm cần phải có thời gian và cần phải
có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chức năng
+ Phối hợp với Cục Dược xây dựng bộ mã thuốc theo chuẩn quốc tế (ATC) để
thống nhất quản lý sử dụng thuốc trên toàn quốc. Hiện nay mỗi bệnh viện đều quản
lý thuốc sử dụng trong bệnh viện theo theo danh mục hoặc theo mã riêng của mình
gây hạn chế cho việc tổng hợp số liệu toàn ngành.
+ Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam để thống nhất và tích hợp quản lý thanh
toán BHYT. Hiện nay việc quản lý thanh toán cho các đối tượng có thẻ BHYT là
tương đối thống nhất về danh mục và biểu giá. Một số loại hình dịch vụ không
được BHYT chi trả sẽ được thống kê riêng. Tại các bệnh viện có trang bị phần mềm
quản lý thanh toán BHYT cho các nhân viên của bệnh viện sử dụng, sau đó in ra
các mẫu báo cáo thường quy và kết xuất các báo cáo theo định dạng tin học để báo
cáo cho các đơn vị chức năng của BHXH. Bộ Y tế sẽ đề nghị các đơn vị chức năng
và đơn vị quản lý CNTT của BHXH cung cấp các biểu mẫu báo cáo và các định dạng
tin học để kết xuất trực tiếp các báo cáo này từ phần mềm khung quản lý bệnh
viện, tránh nhập lại thông tin bệnh nhân nhiều lần gây phiền hà cho người bệnh,
lãng phí nhân lực bệnh viện tại các bệnh viện có ứng dụng phần mềm quản lý bệnh
viện.
Việc xây dựng phần mềm dùng chung là một công việc hết sức lớn và khó khăn
trong việc giới hạn khung phần mềm, chuẩn hoá dữ liệu, chuẩn hoá các chỉ số dữ
liệu thu thập. Vì vậy, trước hết các bệnh viện có nhu cầu cấp thiết cần chủ động
xây dựng phần mềm quản lí bệnh viện phù hợp.
7. Xây dựng hành lang pháp lý về ứng dụng CNTT trong QLBV
Xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá, kiểm tra việc ứng dụng CNTT
trong quản lí bệnh viện.
Xây dựng quy chế và hướng dẫn cho các bệnh viện ứng dụng CNTT quản lýbệnh
viện. Đây sẽ là tài liệu giúp các nhà quản lý bệnh viện làm cơ sở để quản lý
tốt công tác ứng dụng tin học quản lý bệnh viện.
8. Tăng cường đầu tư nguồn lực cho ứng dụng CNTT trong QLBV
Các bệnh viện hàng năm cần dành một khoản ngân sách thích hợp để đầu tư hoặc tái
đầu tư cho CNTT. Theo kinh nghiệm từ một số mô hình ứng dụng thành công tin học
quản lý bệnh viện việc ứng dụng tin học để quản lý đồng bộ, triệt để sẽ đem lại
hiệu quả kinh tế cao, bù đắp các chi phí ban đầu chi cho hoạt động này.9.
Nâng cao năng lực quản lí CNTT của lãnh đạo bệnh viện
Phối hợp với các đơn vị chức năng như TTCNTT, Văn phòng Bộ tổ chức các lớp
QLCNTT (CIO) cho các lãnh đạo và các nhà quản lý bệnh viện. Giới thiệu một số mô
hình các bệnh viện đã ứng dụng có hiệu quả CNTT trong quản lý bệnh viện.
10. Phối hợp với các đơn vị chuyên ngành liên quan nghiên cứu về chuẩn
giao tiếp (HL7), bệnh án điện tử và các nghiên cứu ứng dụng tin học khác
Nghiên cứu bệnh án điện tử là một nghiên cứu mũi nhọn nhằm chuẩn bị cho bước
tiếp theo của các ng dụng CNTT trong bệnh viện nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu lâm
sàng các bệnh viện.Trong tương lai nhu cầu trao đổi thông tin giữa các bệnh
viện trong nước và với các bệnh viện quốc tế là rất lớn, việc chuẩn hóa các giao
tiếp theo chuẩn quc tế HL7 là một việc làm hết sức cấp thiết đòi hỏi phải được
đầu tư thích đáng về nguồn lực và trí tuệ.
11. Mở rộng hợp tác quốc tếTăng cường hợp tác với các tổ chức trong
nước và quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn lực để phát triển phần mềm QLBV và cập nhật
các kiến thức, giải pháp và thông tin mới nhất về lĩnh vực này.
Kết luận
Ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế nói chung và trong quản lý bệnh
viện nói riêng đang là một nhu cầu cấp bách, đòi hỏi có sự quan tâm của các cấp
lãnh đạo, đặc biệt giám đốc Sở Y tế và giám đốc bệnh viện đầu tư thích hợp ngang
với yêu cầu phát triển, để ngành y tế không bị tụt hậu, phát triển ngang tầm với
các ngành khoa học khác và cập nhật với các nước trung bình tiên tiến trong khu
vực.
Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện là thiết thực nâng cao năng lực quản lý và
điều hành của giám đốc các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh, vì vậy giám đốc các bệnh viện phải thực sự quan tâm đầu tư mọi nguồn lực
để ứng dụng và phát triển CNTT trong bệnh viện.
Dưới sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Bộ Y tế, sự cố gắng, quyết tâm của
lãnh đạo và công chức các đơn vị, tin tưởng rằng việc ứng dụng CNTT trong quản
lý bệnh viện thời gian tới sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đáp ứng yêu cầu
của sự phát triển và hiện đại hoá bệnh viện./.