HT MEDSOFT

CTY TNHH PHÁT TRIỂN ĐIỆN TOÁN Y KHOA
HT MEDSOFT

Vietnam Medical Software Development Company Co.,Ltd. - MEDSOFT-VIETNAM Co.,Ltd.

Add: F22 Cư xá Vĩnh Hội, đường Khánh Hội, phường 5, quận 4, TPHCM. - Phone: 0903774437

Website: www.htmedsoft.com  - www.ykhoa.net - Email: phanxuantrung@ykhoa.net

 

YKHOA.NET

PHẦN MỀM
QUẢN LÝ BỆNH VIỆN TOÀN DIỆN

HT MEDSOFT - Công ty hàng đầu của Việt Nam về CNTT y khoa

  Trang chủ
CÔNG TY VÀ DỊCH VỤ
  Giới thiệu công ty
  Phần mềm y khoa
  Hướng dẫn sử dụng
  Demo on youtube
  Bệnh án điện tử (new)
  Thiết kế Website
  Khách hàng
  Cấu hình máy chủ
  Hỏi và đáp
TIN TỨC VÀ KIẾN THỨC
  Thông tin update
  Tin tức MEDSOFT
  CNTT trong y khoa
  Ứng dụng CNTT y khoa
THAM KHẢO
  Bài học kinh nghiệm
  Dành cho bác sĩ
  Tài liệu
  Văn bản

Hệ thống chẩn đoán hình ảnh PACS

Hệ thống nhận dạng bệnh nhân

Bệnh nhân xem bệnh án trên mạng Internet

Hội chẩn từ xa qua mạng Internet

Kết nối tự động thiết bị y khoa điện tử

Bệnh án điện tử di động

Giải pháp cho quản lý BHYT

 

 

TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN ĐẾN NĂM 2006 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN 2006-2010

TS. Lý Ngọc Kính

Vụ trưởng vụ Điều trị

TS. Lý Ngọc Kính

Bước vào Thế kỷ XXI, kinh tế tri thức với sản phẩm mũi nhọn là công nghệ thông tin đang thể hiện vai trò và sức mạnh vượt trội chi phối các hoạt động của con người. Đặc biệt, CNTT là phương tiện trợ giúp đắc lực và có hiệu quả cao trong công tác quản lý nền hành chính nói chung và quản lý ngành y tế nói riêng.

Vì vậy, việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý bệnh viện là một yêu cầu cấp bách nhằm nâng cao chất lượng của công tác quản lý bệnh viện, góp phần thúc đẩy bệnh viện phát triển toàn diện, từng bước đáp ứng được yêu cầu về khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN ĐẾN NĂM 2006

I. MỘT SỐ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÍ BỆNH VIỆN ĐẾN NĂM 2006

Công tác tin học quản lý bệnh viện trong thời gian qua đã đạt được một số tiến bộ đáng kể:

Một số bệnh viện có tiềm năng về tài chính và công nghệ thông tin đã vươn lên bằng nội lực của chính mình xây dựng hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện đồng bộ và ứng dụng thành công tin học hóa quản lý bệnh viện (bệnh viện Phụ sản Hà Nội; bệnh viện Nhi Trung ương …). Đây là những mô hình tốt cho các bệnh viện khác học tập và là bằng chứng vô cùng thuyết phục về hiệu quả của ứng dụng tin học trong quản lý bệnh viện trong việc nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh. Qua thực tế tại các bệnh viện này cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin đng b và tổng thể đã giúp các nh quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện, chống thất thu viện phí, công khai minh bạch tài chính bệnh nhân, giúp kiểm soát sử dụng thuốc hợp lý an toàn, đảm bảo tính tra cứu thuận tiện, lưu trữ lâu dài và vẹn toàn của thông tin rút ngắn thời gian thống kê báo cáo ....

Bên cạnh việc ứng dụng thành công về tin học trong quản lý, rất nhiều bệnh viện đã xây dựng được website riêng với nhiều nội dung chuyên môn phong phú hấp dẫn (bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Nhi TW; bệnh viện Chợ Rẫy…), đưa phạm vi chăm sóc sức khỏe vượt ra ngoài bệnh viện, đưa các dịch vụ y tế đến gần với người dân hơn.

Tuy vậy trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện ở Việt Nam còn thấp so với nhiều ngành khoa học khác và còn kém xa các nước trung bình tiên tiến trong khu vực. Theo số liệu báo cáo của các bệnh viện trên toàn quốc, đa số ứng dụng công nghệ thông tin ở các bệnh viện ở Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc khai thác công việc văn phòng, thống kê, báo cáo. Một số bệnh viện ứng dụng công nghệ thông tin quản lý bệnh viện nhưng chỉ mới thực hiện được từng phần riêng lẻ như là quản lý nhân sự, viện phí, quản lý kho dược, bệnh nhân ra vào viện,… Chỉ có một số ít bệnh viện triển khai quản lý đồng bộ tới người bệnh trong toàn bộ quá trình điều trị.

Thực trạng phát triển phần mềm quản lý bệnh viện đã được nhắc đến nhiều trong các hội nghị CNTT của ngành như còn manh mún, mang tính tự phát và chưa hiện đại. Theo số liệu của Vụ Điều trị, năm 2005 cả nước có gần 1000 bệnh viện công lập nhưng mới chỉ có khoảng 5% có phần mềm ứng dụng tin học QLBV tương đối tổng thể, nhưng do hàng chục nhà cung cấp phần mềm khác nhau. Các phần mềm được viết trên nhiều ngôn ngữ và hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau, theo các yêu cầu riêng của từng bệnh viện và không kết nối được với nhau.

Tại một số bệnh viện, thông tin của một bệnh nhân BHYT phải nhập lại 3 lần trên 3 phần mềm khác nhau (phần mềm quản lý bệnh viện; phần mềm thanh toán BHYT; phần mềm quản lý báo cáo thống kê) gây phiền hà cho bệnh nhn phải chờ đợi và gây lãng phí nhân lực nhập số liệu của bệnh viện.

Hệ thống máy vi tính dùng trong các bệnh viện lại không đồng bộ do mua ở nhiều thời gian khác nhau với nhiều cấu hình khác nhau, một số đơn vị có nối mạng toàn bệnh viện nhưng hệ thống mạng quá cũ, tư vấn thiết kế không tốt dẫn đến hạn chế việc triển khai chất lượng các phần mềm bệnh viện.

Kiến thức về tin học của đại đa số cán bộ trong bệnh viện còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ thông tin trong bệnh viện, mặc dù yêu cầu phải có trình độ tin học cơ bản từ lâu đã trở thành một tiêu chí tuyển dụng bắt buộc.

Một số bệnh viện đã có chuyên gia tin học, song chưa có chế độ đãi ngộ thích hợp nên chưa khuyến khích được việc phát triển các ứng dụng tin học phục vụ cho quản lý, đa số vẫn chỉ làm công tác quản trị mạng đơn thuần.

Một tồn tại lớn nhất là không ít các giám đốc bệnh viện nhận thức chưa đầy đủ về phát triển công nghệ thông tin trong bệnh viện nên chưa đầu tư ngang tầm với yêu cầu phát triển.

Trước thực trạng nhu cầu phát triển công nghệ thông tin trong bệnh viện là một yêu cầu hết sức cấp bách hiện nay. Việc nhìn nhận đánh giá thẳng thắn những tồn tại trong công tác tin học hóa quản lý bệnh viện sẽ giúp chúng ta định hướng tốt cho giai đoạn phát triển sắp tới.

3II. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHẦN MỀM MEDISOFT 2003

1. Một số kết quả sau hơn một năm triển khai thực hiện phần mềm medisoft2003

Dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Y tế, sự cố gắng, quyết tâm của Vụ Điều trị, sau một thời gian chuẩn bị, xây dựng phần mềm, ngày 19 tháng 8 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 2824/2004/QĐ-BYT, về việc ban hành phần mềm ứng dụng tin học trong “Quản lý báo cáo thống kê bệnh viện và hồ sơ bệnh án”, viết tắt là Medisoft 2003, gồm 2 phân hệ: Phân hệ 1: Áp dụng tại các bệnh viện của Nhà nước, bán công và tư nhân. Phân hệ 2: Áp dụng tại Vụ Điều trị- Bộ Y tế, Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Y tế ngành.

Phần mềm Medisoft 2003 về cơ bản được nâng cấp từ phần mềm Bsoft 2000 của Vụ Điều trị, được viết bằng ngôn ngữ C# trên nền Visual Studio 2003, sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu Access và Oracle 9.i:

Phân hệ 1: dùng cho các bệnh viện với chức năng chính là quản lý các báo cáo thống kê và hồ sơ bệnh án. Phân hệ này có thể chạy trên mạng LAN để quản lý thông tin xuất nhập viện của bệnh nhân theo thời gian thực, sau đó sẽ kết xuất ra các bảng biểu thống kê để gửi về Sở Y tế và Bộ Y tế. Phân hệ này cũng cho phép quản lý các theo hình thức thủ công đó là nhập trực tiếp các số liệu đã tổng hợp từ sổ sách sau đó kết xuất các báo cáo để gửi Sở Y tế và Bộ Y tế theo đường email, đĩa mềm, đĩa CD ...

Phân hệ 2: dùng cho các Sở Y tế và Bộ Y tế nhằm tổng hợp các báo cáo từ phân hệ 1 do các bệnh viện gửi lên. Công việc tổng hợp các báo cáo của các bệnh viện gửi về Sở Y tế và của các Sở Y tế gửi về Bộ Y tế tương đối dễ dàng và tiết kiệm thời gian.

Phần mềm Medisoft 2003 quản lý về biểu mẫu báo cáo và hồ sơ bệnh án cho các bệnh viện trên tòan quốc, đánh dấu thành công bước đầu trong việc chuẩn hoá và thống nhất phần mềm. Đến nay sau hơn một năm triển khai thực hiện và đây là dịp tốt nhất để đánh giá thực tế thành công của mô hình này:

- Sau hơn một năm triển khai, tổng số báo cáo 9 tháng năm 2005 là 240 báo cáo/1040BV chiếm 23%. Trong đó có 20/30 BV Trung ương thực hiện.

- Tổng số báo cáo 12 tháng năm 2005 Vụ Điều trị nhận được: 200 báo cáo/1040BV chiếm 19%. Có 18/30 BV Trung ương còn lại chủ yếu là các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.

- Trong số đó có 7/64 Sở Y tế (chiếm 10%) thực hiện trong toàn Sở: Hải Phòng, Hưng Yên, Long An, Nghệ An, Thái Nguyên, Bến Tre, Hà Nội.

- Trong số các bệnh viện gửi báo cáo về có 50% tổng hợp báo cáo từ Hồ sơ

bệnh án. Số còn lại là nhập tổng hợp theo 11 biểu báo cáo. Những bệnh viện lớn như Bạch Mai, Chợ rẫy, Việt Đức, TW Huế … đều nhập tổng hợp từ biểu báo cáo.

- Một số bệnh viện có nối mạng LAN để quản lý thông tin xuất nhập chuyển viện của bệnh nhân (điển hình là bệnh viện Đống Đa Hà nội; Bệnh viện Trà Vinh), còn lại chủ yếu là cài đặt trên máy đơn lẻ hoặc mạng LAN nhỏ để nhập hồi cứu.

- Đối với các bệnh viện tuyến huyện nếu được trang bị máy tính và cán bộ chuyên trách có trình độ tin học thì việc triển khai thực hiện không quá khó khăn do lưu lượng bệnh nhân ít, việc nhập và kết xuất các báo cáo tương đối dễ dàng.

2. Thành công bước đầu

Những đóng góp có ý nghĩa vô cùng to lớn của Medisoft 2003 phải kể đến:

Một là, cho thấy được vai trò chủ đạo và quyết tâm của Bộ Y tế trong công tác chỉ đạo ứng dụng CNTT trong quản lý toàn bộ hệ thống bệnh viện.

Hai là, thống nhất được định dạng tin học của hệ thống biểu mẫu thống kê báo cáo.

Ba là, số liệu được lưu trữ lâu dài và tra cứu thuận tiện dễ dàng, rút ngắn được thời gian tổng hợp báo cáo thống kê cho Sở Y tế và Bộ Y tế.

Bốn là, đã bước đầu giới thiệu mô hình quản lý bệnh viện bằng công nghệ thông tin và là một bằng chứng rất thuyết phục cho thấy hoàn toàn có khả năng triển khai một phần mềm khung quản lý bệnh viện trên toàn quốc, mặc dù các bệnh viện có sự khác nhau về cơ cấu tổ chức và công việc cụ thể.

Hiện nay, một số bệnh viện không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng CNTT trong quản báo cáo thống kê và hồ sơ bệnh án, các bệnh viện này đã vươn lên bằng nội lực của chính mình để triển khai quản lý tổng thể bệnh viện bằng CNTT và bước đầu đã thu được nhiều thành quả. Một số điển hình của việc ứng dụng CNTT trong

quản lý toàn diện bệnh viện phải kể đến đó là: bệnh viện Gang Thép Thái nguyên; Răng Hàm Mặt Hà nội; bệnh viện Phụ Sản Hà nội, bệnh viện Nhi TW; Việt Nam - Thụy Điển Uông bí ….

3. Tồn tại, khó khăn

Quá trình thực hiện đã có rất nhiều ý kiến khác nhau tùy theo đối tượng sử dụng:

- Một số lỗi về mặt kỹ thuật là điều không tránh khỏi đối với bất kỳ một phần mềm nào khi triển trên diện rộng đã dần được đơn vị phát triển khắc phục.

Hiện nay phiên bản sửa lỗi lần thứ 4 đã chạy ổn định.

- Đối với một số bệnh viện, cán bộ chuyên trách có trình độ sử dụng máy tính còn hạn chế và quá trình tập huấn triển khai phần mềm chưa được cụ thể, chưa chi tiết cho nên gặp rất nhiều khó khăn khi sử dụng phần mềm.

- Đối với bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ương thì phần mềm này mới chỉ đáp ứng được yêu cầu về mặt quản lý báo cáo thống kê của Bộ Y tế và một số báo cáo của Sở, chưa đem lại hiệu quả cho các bệnh viện trong công tác quản lý, gây tốn kém nhân lực nhập liệu do lưu lượng bệnh nhân ra vào viện lớn.

- Quá trình phát triển phần mềm do được phê duyệt về mặt chuyên môn nhưng lại không có kinh phí phát triển, trong khi nhu cầu nâng cấp phần mềm Bsoft là cấp bách do đó phải dựa hoàn toàn vào một công ty tư nhân nên không được bàn giao mã nguồn đầy đủ và tài liệu kỹ thuật (hiện nay mới chỉ bàn giao được phần 11 biểu mẫu thống kê).

- Việc đưa tiêu chí sử dụng phần mềm để kết xuất và gửi báo cáo thống kê về Bộ Y tế vào trong bảng điểm kiểm tra cuối năm đã gây nhiều tranh cãi. Việc ứng dụng phần mềm để quản lý các báo cáo thống kê tổng hợp và kết xuất số liệu để gửi về Bộ Y tế tương đối đơn giản, chỉ cần 1 người/1 máy tính/ là có thể đảm bảo hoàn thành công việc.

- Quá trình triển khai thực hiện Medisoft 2003 và nghiên cứu thực trạng tại một số bệnh viện cho thấy các bệnh viện rất khác nhau về đặc thù công việc; cũng như khác nhau về nhu cầu ứng dụng; khác nhau về hạ tầng cơ sở vật chất; khác nhau về kinh nghiệm và quan điểm của lãnh đạo trong việc triển khai ứng dụng tin học quản lý bệnh viện; khác nhau về trình độ công nghệ thông tin của nhân viên y tế..., cho nên không thể có một phần mềm cứng nhắc (đóng mã nguồn) để áp dụng cho tất cả các bệnh viện.

4. Bài học kinh nghiệm

Qua trên một năm triển khai thực hiện phần mềm Medisoft 2003 trên mạng lưới bệnh viện trong cả nước, các nhà quản lý đã rút ra được nhiều bài học quí báu trong công tác triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, đó là:

- Phải có quyết tâm cao và nhất quán trong chỉ đạo thực hiện của lãnh đạo các cấp.

- Phải có sự đầu tư thích đáng và đồng bộ về hạ tầng cơ sở vật chất như máy tính, hệ thống mạng, phần mềm.

- Về đào tạo con người, phải tăng cường tập huấn cho tất cả các cán bộ công chức viên chức trong bệnh viện về sử dụng máy tính và sử dụng phần mềm.

- Khi triển khai xây dựng phn mềm quản lý bệnh viện, các bệnh viện cần phải yêu cầu nhà cung cấp phần mềm bàn giao tài liệu kỹ thuật; mã nguồn; cấu trúc cơ sở dữ liệu ... để chủ động với cơ sở dữ liệu của bệnh viện mình sau này.

Phần thứ hai

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CNTT TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN GIAI ĐOẠN 2006-2010

I. MỤC TIÊU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Một là, tăng cường công tác quản lý hoạt động bệnh viện dựa trên cơ sở quản lý khoa học và hiệu quả của hệ thống quản lý áp dụng tin học (tin học hoá quản lý bệnh viện), tăng cường năng lực hoạt động của cán bộ dựa trên việc áp dụng kỹ thuật cao.

Hai là, giúp cho người quản lý nắm được các thông tin nhanh, chính xác, bất cứ lúc nào, tránh được quan liêu, hiệu chỉnh ngay được các sai sót và điều chỉnh hoạt động kịp thời. Thông qua các dữ liệu và thông tin, người quản lý có thể đưa ra được những kế hoạch phù hợp và giúp cho việc điều hành thực hiện kế hoạch một cách nhanh chóng.

Ba là, giúp đơn giản hoá các thủ tục hành chính, loại bỏ bớt các hoạt động trung gian, tạo điều kiện cho các dịch vụ khám chữa bệnh nhanh chóng, thuận tiện và kịp thời.

Bốn là, tăng cường chất lượng thông tin của bệnh viện các tuyến và thống nhất dữ liệu cho hoạt động quản lý ngành.

II. ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG BỆNH VIỆN

Định hướng trong ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện trong thời gian tới là:

1. Tiếp tục triển khai thực hiện phần mềm quản lý báo cáo thống kê bệnh viện (Medisoft 2003) và kết xuất báo cáo gửi về Bộ Y tế. Bộ Y tế (Vụ Điều trị cung cấp định dạng tin học các báo co thống kê bệnh viện cho cc bệnh viện sử dụng.

2. Các bệnh viện trong toàn quốc tích cực, chủ động xây dựng phần mềm tin học quản lý bệnh viện nhưng phải kết nối được với phần mềm thống kê Medisoft 2003.

3. Bộ Y tế (Vụ Điều trị) xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá, kiểm tra việc ứng dụng CNTT trong quản lí bệnh viện.

4. Vụ Điều trị xây dựng phần mềm dùng chung với một số modul cơ bản có mã nguồn mở, hỗ trợ các bệnh viện đẩy nhanh tốc độ ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện.

5. Phối hợp với các đơn vị liên quan từng bước nghiên cứu và xây dựng chuẩn trao đổi dữ liệu y khoa quốc tế HL7.

IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QLBV BỆNH VIỆN

1. Phần mềm thống kê báo cáo (Medisoft 2003)

Tiếp tục ứng dụng Medisoft 2003 trong việc quản lý báo cáo thống kê và kết xuất báo cáo gửi về Sở Y tế và Bộ Y tế (việc này như đã trình bày ở trên rất đơn giản), các bệnh viện theo nhu cầu có thể lựa chọn ứng dụng hay không phần quản lý Hồ sơ Bệnh án. Vụ Điều trị cung cấp định dạng tin học các báo cáo thống kê bệnh viện cho các bệnh viện đang sử dụng phần mềm QLBV của các đơn vị khác, các bệnh viện phải yêu cầu các công ty phải kết xuất trực tiếp các báo cáo thống kê bệnh viện, tránh nhập bệnh nhân nhiều lần, gây phiền hà cho bệnh nhân.

Tạo điều kiện thuận lợi nhất để các bệnh viện triển khai thực hiện được phần mềm quản lý báo cáo thống kê bệnh viện (Medisoft 2003) và kết xuất báo cáo gửi về Bộ Y tế.

Phấn đấu đến hết năm 2010: trên 80% các bệnh viện trong toàn quốc thực hiện phần mềm quản lý báo cáo thống kê bệnh viện (Medisoft 2003).

2. Mạng LAN của bệnh viện

Hệ thống mạng LAN trong bệnh viện chính là cơ sở hạ tầng của hệ thống thông tin và là một yếu tố quan trọng quyết định thành công việc ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ của các phần mềm quản lý bệnh viện đồng bộ. Vì vậy, cần được tư vấn và thiết kế mạng LAN trong bệnh viện thật tốt, sao cho đáp ứng được các yêu cầu hệ thống ứng dụng và dch v trong giai đoạn hiện tại và tương lai. Tùy theo địa hình phân tán của các điểm nút mạng cần phải lựa chọn công nghệ đường truyền sao cho đảm bảo các tiêu chí kỹ thuật (vd: cáp quang; sợi trục hay công nghệ không dây ...)

Hệ thống mạng cần phải đáp ứng các yêu cầu về ứng dụng, đảm bảo cung cấp hạ tầng truyền thông cho việc truy cập cũng như cập nhật và tích hợp hệ thống dữ liệu trong bệnh viện và ra bên ngoài. Đây là tiền đề cho các bước phát triển hệ thống ứng dụng thống nhất trong một bệnh viện nói riêng và toàn ngành y tế nói chung trong các giai đoạn tiếp theo.

Phấn đấu đến hết năm 2010: 100 % các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 30% bệnh viện tuyến quận, huyện có hệ thống mạng LAN trong bệnh viện.

3. Kết nối Internet

Internet đang được phổ biến hết sức nhanh chóng trở thành hệ thống huyết mạch quan trọng của mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Càng ngày người dùng Internet đang được hưởng thành quả của các tiến bộ vượt bậc về công nghệ cũng như hạ tầng cơ sở viễn thông, tốc độ đường truyền cao ổn định, cho phép nhân viên y tế có thể sử dụng nhiều ứng dụng khác nhau qua Internet.

Việc sử dụng dịch vụ Internet, dịch vụ kết nối và dịch vụ ứng dụng Internet trong hệ thống bệnh viện là rất cấp thiết, là một cửa ngõ lưu thông để cập nhật với khoa học công nghệ Y học thế giới, khuyến khích ưu tiên phát triển Internet bệnh viện là một chủ trương lớn của nghành Y tế.

Phấn đấu đến hết năm 2010: 100 % các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 30% bệnh viện tuyến quận, huyện mở cổng Internet, cán bộ nhân viên bệnh viện được sử dụng miễn phí Internet tại bệnh viện.

4. Website của bệnh viện

Trang website bệnh viện tạo một kho dữ liệu thông tin về quá trình phát triển, tổ chức kết cấu bệnh viện, vật tư thiết bị y tế, phục vụ tra cứu thuốc, năng lực phục vụ người bệnh, các nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, chỉ đạo tuyến, hợp tác quốc tế, dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu; giúp cho cán bộ trong bệnh viện, sinh viên, người dân quan tâm tra cứu đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời phục vụ người bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo; tăng cường trao đổi thông tin trong hệ thống bệnh viện, cũng như các cơ sở khoa học trong và ngoài nước thông qua việc kết nối mạng trong hệ thống bệnh viện trên cả nước và kết nối Internet; nâng cao năng lực quản lý điều hành bệnh viện trên cơ sở nắm bắt kịp thời các thông tin bệnh viện qua website.

Phấn đấu đến hết năm 2010: 100 % các bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 30% bệnh viện tuyến quận, huyện có trang Website riêng của bệnh viện.

5. Tích cực, chủ động xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện

Trước các tiến bộ vượt bậc của công nghiệp phần cứng, giá thành của các thiết bị phần cứng ngày càng giảm, do đó yếu tố phần mềm trở nên vô cùng quan trọng trong việc ứng dụng tin học quản lý bệnh viện. Bên cạnh việc đưa ra các tiêu chí về quản lý y tế cho việc ứng dụng tin học quản lý bệnh viện, Vụ Điều trị chủ trương nâng cấp Medisoft 2003 trở thành một phần mềm quản lý bệnh viện thực sự.

Phần mềm này bao gồm một số mô- đun cơ bản nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý chung nhất của tất cả các bệnh viện (khoa khám bệnh; cận lâm sàng; nội trú; viện phí và BHYT; dược kho và quản lý dược bệnh nhân).

Việc phát triển phần mềm này không phải là một chủ trương thống nhất phần mềm phục vụ cho quản lý hệ thống các bệnh viện mà chỉ đơn giản nhằm mục tiêu giảm tối đa chi phí phát triển phần mềm cho các bệnh viện, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu và giúp đẩy nhanh tốc độ tin học hóa quản lý bệnh viện trong thời gian tới.

Phần mềm này do Vụ Điều trị - Bộ Y tế chủ trì phối hợp với một số đơn vị có năng lực CNTT phát triển, bản quyền phần mềm thuộc Bộ Y tế và mã nguồn phần mềm sẽ do Vụ Điều trị quản lý, sau khi triển khai thí điểm thành công tại một số bệnh viện, phần mềm này sẽ được cung cấp cho các bệnh viện kèm theo mã nguồn và tài liệu kỹ thuật chi tiết.

Tùy theo yêu cầu quản lý chi tiết và đặc thù công việc mà các bệnh viện có thể dựa vào cán bộ CNTT của bệnh viện hoặc thuê các đối tác thích hợp để chỉnh sửa (customize), phát triển tiếp hoặc thêm hoặc bớt các chức năng, tất nhiên là chi phí sẽ rất thấp bởi lẽ có rất nhiều cá nhân hoặc công ty có thể làm được việc này.

Các chỉnh sửa thuộc phần khung sẽ của phần mềm- theo luật của phần mềm mã nguồn mở- sẽ được phổ biến trở lại cho bệnh viện và Bộ Y tế nhằm tiếp tục hoàn thiện để ứng dụng cho các bệnh viện khác đồng thời các bệnh viện cũng có thể chủ động với phần mềm và cơ sở dữ liệu của mình. Những mô-đun thêm mới sẽ thuộc bản quyền của các đơn vị phát triển tiếp theo mà không yêu cầu phải trao lại cho Bộ Y tế.

Đây là mô hình phát triển phần mềm ”lặp và tăng dần” dựa trên cơ sở mô hình tiến hóa, có ưu điểm là phát huy được sức mạnh trí tuệ tập thể của các chuyên gia tin học trong và ngoài ngành, đẩy nhanh tốc độ ứng dụng tin học trong quản lý bệnh viện. Sau quá trình triển khai tại một số bệnh viện, những nhược điểm của phần mềm sẽ bị loại bỏ hoặc thay thế, tất cả các ưu điểm sẽ được giữ lại để nâng cấp cho phiên bản sau và phần mềm sẽ không ngừng được hoàn thiện.

Việc phát triển phần mềm khung quản lý bệnh viện là rất phức tạp cho nên quá trình hoàn thiện, tối ưu, chuẩn hóa phần mềm cần phải có thời gian và cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chức năng

+ Phối hợp với Cục Dược xây dựng bộ mã thuốc theo chuẩn quốc tế (ATC) để thống nhất quản lý sử dụng thuốc trên toàn quốc. Hiện nay mỗi bệnh viện đều quản lý thuốc sử dụng trong bệnh viện theo theo danh mục hoặc theo mã riêng của mình gây hạn chế cho việc tổng hợp số liệu toàn ngành.

+ Phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam để thống nhất và tích hợp quản lý thanh toán BHYT. Hiện nay việc quản lý thanh toán cho các đối tượng có thẻ BHYT là tương đối thống nhất về danh mục và biểu giá. Một số loại hình dịch vụ không được BHYT chi trả sẽ được thống kê riêng. Tại các bệnh viện có trang bị phần mềm quản lý thanh toán BHYT cho các nhân viên của bệnh viện sử dụng, sau đó in ra các mẫu báo cáo thường quy và kết xuất các báo cáo theo định dạng tin học để báo cáo cho các đơn vị chức năng của BHXH. Bộ Y tế sẽ đề nghị các đơn vị chức năng và đơn vị quản lý CNTT của BHXH cung cấp các biểu mẫu báo cáo và các định dạng tin học để kết xuất trực tiếp các báo cáo này từ phần mềm khung quản lý bệnh viện, tránh nhập lại thông tin bệnh nhân nhiều lần gây phiền hà cho người bệnh, lãng phí nhân lực bệnh viện tại các bệnh viện có ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện.

Việc xây dựng phần mềm dùng chung là một công việc hết sức lớn và khó khăn trong việc giới hạn khung phần mềm, chuẩn hoá dữ liệu, chuẩn hoá các chỉ số dữ liệu thu thập. Vì vậy, trước hết các bệnh viện có nhu cầu cấp thiết cần chủ động xây dựng phần mềm quản lí bệnh viện phù hợp.

7. Xây dựng hành lang pháp lý về ứng dụng CNTT trong QLBV

Xây dựng và ban hành các tiêu chí để đánh giá, kiểm tra việc ứng dụng CNTT trong quản lí bệnh viện.

Xây dựng quy chế và hướng dẫn cho các bệnh viện ứng dụng CNTT quản lý

bệnh viện. Đây sẽ là tài liệu giúp các nhà quản lý bệnh viện làm cơ sở để quản lý

tốt công tác ứng dụng tin học quản lý bệnh viện.

8. Tăng cường đầu tư nguồn lực cho ứng dụng CNTT trong QLBV

Các bệnh viện hàng năm cần dành một khoản ngân sách thích hợp để đầu tư hoặc tái đầu tư cho CNTT. Theo kinh nghiệm từ một số mô hình ứng dụng thành công tin học quản lý bệnh viện việc ứng dụng tin học để quản lý đồng bộ, triệt để sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao, bù đắp các chi phí ban đầu chi cho hoạt động này.

9. Nâng cao năng lực quản lí CNTT của lãnh đạo bệnh viện

Phối hợp với các đơn vị chức năng như TTCNTT, Văn phòng Bộ tổ chức các lớp QLCNTT (CIO) cho các lãnh đạo và các nhà quản lý bệnh viện. Giới thiệu một số mô hình các bệnh viện đã ứng dụng có hiệu quả CNTT trong quản lý bệnh viện.

10. Phối hợp với các đơn vị chuyên ngành liên quan nghiên cứu về chuẩn giao tiếp (HL7), bệnh án điện tử và các nghiên cứu ứng dụng tin học khác

Nghiên cứu bệnh án điện tử là một nghiên cứu mũi nhọn nhằm chuẩn bị cho bước tiếp theo của các ng dụng CNTT trong bệnh viện nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu lâm sàng các bệnh viện.

Trong tương lai nhu cầu trao đổi thông tin giữa các bệnh viện trong nước và với các bệnh viện quốc tế là rất lớn, việc chuẩn hóa các giao tiếp theo chuẩn quc tế HL7 là một việc làm hết sức cấp thiết đòi hỏi phải được đầu tư thích đáng về nguồn lực và trí tuệ.

11. Mở rộng hợp tác quốc tế

Tăng cường hợp tác với các tổ chức trong nước và quốc tế nhằm tìm kiếm nguồn lực để phát triển phần mềm QLBV và cập nhật các kiến thức, giải pháp và thông tin mới nhất về lĩnh vực này.

Kết luận

Ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế nói chung và trong quản lý bệnh viện nói riêng đang là một nhu cầu cấp bách, đòi hỏi có sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đặc biệt giám đốc Sở Y tế và giám đốc bệnh viện đầu tư thích hợp ngang với yêu cầu phát triển, để ngành y tế không bị tụt hậu, phát triển ngang tầm với các ngành khoa học khác và cập nhật với các nước trung bình tiên tiến trong khu vực.

Ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện là thiết thực nâng cao năng lực quản lý và điều hành của giám đốc các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vì vậy giám đốc các bệnh viện phải thực sự quan tâm đầu tư mọi nguồn lực để ứng dụng và phát triển CNTT trong bệnh viện.

Dưới sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Bộ Y tế, sự cố gắng, quyết tâm của lãnh đạo và công chức các đơn vị, tin tưởng rằng việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện thời gian tới sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và hiện đại hoá bệnh viện./.

Khi nói về CNTT Việt Nam
thế giới sẽ nghĩ về
CNTT Y KHOA

Dao kéo y khoa khác dao kéo thường.

Kim chỉ y khoa khác kim chỉ thường.

Phần mềm y khoa cũng vậy, khác phần mềm thường.

Không hiểu y khoa mà làm phần mềm y khoa thì chỉ mang lại hậu quả chứ không mang lại hiệu quả.

Khách hàng phải chọn phần mềm CHUYÊN NGHIỆP

BS PHAN XUÂN TRUNG

Lãng tử giữa thương trường

Web 2.0 là con đường duy nhất cho CNTT y khoa

Digitech 

Báo chí và YKHOA.NET

Tạp chí PC World đăng bài giới thiệu về phần mềm YKHOA.NET

Khám chữa bệnh với “Bác sĩ điện toán - PC WORLD VN

Hội thảo CNTT Y tế - PC World

Bệnh án điện tử, ích lợi cho người bệnh - Pháp luật Việt Nam

Bệnh án điện tử - khi công nghệ đi vào cuộc sống - Đài truyền hình Việt Nam

Thầy bói sờ voi - SGTT

Hướng đi tất yếu - Hà Nội Mới

5 phần mềm được trao Cúp vàng SoftMart 2005 - Báo Người Lao Động

Bệnh viện không giấy, không film Báo Sài Gòn Giải Phóng

Bệnh viện kỹ thuật số Thời báo Vi Tính Sài Gòn

Phòng khám An Khang: Điện tử hóa dịch vụ khám chữa bệnh - PC World

Đi khám bệnh điện tử - Tuổi Trẻ

Ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện - Quản Trị Mạng

Sản phẩm lọt vòng chung khảo Nhân tài Đất Việt 2006 - Dân Trí

Bệnh viện kỹ thuật số - Hội Tin Học TPHCM

Ykhoa.net - Tiến tới phòng khám điện tử - VN Media

Ứng dụng công nghệ thông tin trong bệnh viện:Còn mạnh ai nấy làm - Báo Bà Rịa Vũng Tàu

Phòng khám đa khoa Medicoast (165 Thùy Vân, TP.Vũng Tàu):Ứng dụng phần mềm quản lý y khoa tiện ích - Báo Bà Rịa Vũng Tàue

Có một phòng khám đa khoa điện tử - Viện KH&CN VN

CNTT - biện pháp hữu hiệu giảm tai nạn y khoa - Quản Trị Mạng

Khám bệnh online - Người Lao Động

Bệnh viện Bạch Mai Khám, chữa bệnh bằng bệnh án điện tử - Báo Lao Động

Chụp mũ doanh nghiệp - Báo Tuổi Trẻ

Quảng cáo ấn tượng

Hội Nghị CNTT Y khoa

HUY CHƯƠNG VÀNG ICT VIETNAM 2006

CÚP VÀNG SOFTMART 2005

HUY CHƯƠNG VÀNG
SẢN PHẨM CHẤT LƯỢNG VÌ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG - 2006

Tham khảo

 

 

YKHOA.NET

QUẢN LÝ BỆNH VIỆN TOÀN DIỆN

Website đã được thông báo tại Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam